Nghề điêu khắc đá Bửu Long xuất hiện từ những ngày đầu khai hoang lập ấp, gắn liền với thời kỳ lịch sử hình thành và phát triển vùng đất Đồng Nai – Gia Định xưa. Theo Nhà Nguyễn đến vùng đất Đồng Nai, một bộ phận người dân Quảng Đông, Trung Quốc thuộc dân tộc Hẹ đã mang theo nghề truyền thống của họ và với sự kết hợp khéo léo của người Việt, nhiều làng nghề đã được hình thành, phát triển như: nghề làm lu, nghề đan lát mây tre lá… và trong đó có nghề điêu khắc đá.
Nhờ sự ưu ái của thiên nhiên, vùng núi Bửu Long có loại đá xanh – một loại đá xanh rất mịn, có độ cứng, không có hoa văn, không lấp lánh, có màu xanh tự nhiên rất đẹp, đặc biệt là không bị mờ hay hoan ố theo thời gian, phù hợp cho việc phát triển nghề điêu khắc đá. Chính từ nguyên liệu này, sản phẩm điêu khắc đá Bửu Long cũng rất đa dạng và phong phú, từ các công trình tôn giáo, tín ngưỡng như tượng thờ, tượng linh thú (lân, sư tử, nghê), lưu hương, linh vị, bia… đến các vật dụng trong sinh hoạt đời sống hằng ngày như: cối xay, cối giã gạo, bộ cờ, đèn đá…đều được trao truốt và tỉ mỉ trong từng công đoạn.

Những đường nét tinh xảo điêu khắc bằng tay
Có tận mắt chứng kiến, mới thấy được cái khó khăn và sự vất vả của nghề điêu khắc đá. Bắt đầu bằng việc tìm nguồn nguyên liệu ưng ý, người thợ phải bỏ công cả tháng để tìm những tảng đá phù hợp cho tác phẩm của mình rồi phải tự mình đục đẽo thành khối vừa ý trước khi vận chuyển về. Sau đó, dựa trên những kỹ thuật đã được truyền nghề, người thợ phải biết sử dụng nhiều thủ thuật với nhiều công cụ khác nhau như: đục nhảy, đục phá, đục láng, đục rãnh, đục khớp, đục vòng… chính sự đặc biệt của loại đá tại Bửu Long mà việc chạm trổ cũng khó hơn đòi hỏi người thợ phải có những cách thế xử lý riêng trong quá trình chế tác. Trong công đoạn điêu khắc, khó nhất là công đoạn tạo hình và đánh bóng, công đoạn này đòi hỏi người thợ phải có tay nghề chắc, sự kiên nhẫn miệt mài làm việc với thời gian dài để tạo ra một sản phẩm trở nên có hồn và sinh động hơn. Thậm chí để cho ra những tác phẩm hoàn hảo và có hồn đúng với mục đích của người thợ thì có khi thời gian hoàn thành mất cả năm trời.
Xã hội ngày càng phát triển, nghề điêu khắc đá bây giờ được thay thế bằng máy móc, dễ dàng và nhanh hơn nhiều. Tuy nhiên, dù có áp dụng những máy móc hiện đại thì cũng không thể thay thế được phương pháp thủ công, khó tạo ra những đường nét tinh xảo điêu khắc bằng tay.
Qua hơn ba thế kỷ tồn tại, làng nghề điêu khắc đá Bửu Long đã sinh ra nhiều nghệ nhân tài hoa như: Hà Kiều, Dương Văn Hai, Phạm Thành Đầu, Ngụy Đức Mỹ…để rồi từ bàn tay tài hoa của những nghệ nhân các tác phẩm điêu khắc nghệ thuật từ đá, tượng nhân vật tôn giáo, tượng tứ linh…được ra đời góp phần vào nhiều công trình kiến trúc ở Biên Hòa như: Chùa Bà Thiên Hậu, Chùa Ông, Văn miếu Trấn Biên… và ở các địa phương trên cả nước đã tạo nên dấu ấn đặc biệt của làng nghề đá Bửu Long. Sản phẩm của làng đá Bửu Long không chỉ có mặt khắp trong Nam ngoài Bắc mà còn vươn xa đến tận Đài Loan, Hồng Kông, Hàn Quốc, Nhật Bản…
Tuy nhiên từ năm 1996 khi thành phố Biên Hòa ban hành quyết định cấm khai thác đá ở hồ Long Ẩn (thuộc quần thể Khu du lịch Bửu Long) để bảo toàn cảnh quan, không làm ảnh hưởng đến du lịch thì người dân làng đá đã bắt đầu gặp khó khăn. Để duy trì sản xuất, người dân làm nghề đá phải tìm mua nguyên liệu tận các mỏ đá ở Hóa An, Tân Hạnh (Biên Hòa), Tân Hiệp (Bình Dương)… Với công vận chuyển và tiền nguyên liệu cao, chưa kể đá ở các vùng này chất lượng không tốt, độ mịn và màu xanh không bằng đá ở Bửu Long nên việc sản xuất và sản phẩm cũng có những ảnh hưởng nhất định.
Ngày 10/10/2008, Ủy ban Nhân dân thành phố Biên Hòa đã ra văn bản 2938/UBND-T về chủ trương di dời các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm ra khỏi vùng dân cư. Tuy chủ trương đã có nhưng do chưa có chính sách khuyến khích hoặc phát triển nghề, không có “quỹ đất” để quy hoạch làng nghề đã đặt người dân nghề đá vào một tình trạng hoang mang bất định…Sự cạnh tranh bắt đầu trở nên gay gắt, chỉ những cơ sở lớn, có uy tín về tay nghề mới có thể tồn tại được. Số phận của những người thợ đá cũng trở nên bấp bênh, đa phần đã đầu quân ở các tỉnh, thành khác hoặc bỏ nghề truyền thống sang làm các nghề thời vụ, thậm chí phải chuyển nghề. Do đó, lớp trẻ ngày nay cũng không còn tha thiết với việc kế thừa nghề truyền thống của cha ông…
Dù đã và đang đối mặt với những khó khăn, thế nhưng nơi đây vẫn còn những người dân tiếp tục gắn bó với nghề. Rất hy vọng, chính quyền địa phương, nhà nước quan tâm và sớm có giải pháp, kế hoạch cụ thể vực dậy làng nghề điêu khắc đá truyền thống Bửu Long. Góp phần tạo cơ hội cho người tâm huyết với nghề đá được an cư lạc nghiệp, đồng thời, lưu giữ lại tiền nhân đi mở cõi làng nghề 300 tuổi .