
Luật Tín ngưỡng, tôn giáo số 07/2026/QH16 là văn bản pháp luật quan trọng trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Luật không chỉ tiếp tục khẳng định quan điểm nhất quán của Đảng và Nhà nước trong việc tôn trọng, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Nhân dân, mà còn bổ sung các quy định mới nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong bối cảnh mới.

Dưới góc độ pháp lý và thực tiễn quản lý nhà nước, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026 có 6 nhóm điểm mới đột phá đáng chú ý.
1. Định danh pháp lý và quản lý chặt chẽ hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng
Một trong những điểm mới nổi bật của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026 là lần đầu tiên hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên môi trường số được đưa vào phạm vi điều chỉnh trực tiếp của văn bản luật. Đây là bước tiến quan trọng, phù hợp với yêu cầu quản lý trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia diễn ra mạnh mẽ.
Luật đã bổ sung khái niệm tại khoản 17 Điều 2: “Hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là việc tổ chức, cá nhân theo quy định của Luật này sử dụng không gian mạng để thực hiện hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo”.
Bên cạnh đó, Điều 8 của Luật thiết lập cơ chế quản lý rõ ràng đối với hoạt động này. Theo đó, cá nhân, tổ chức phải thực hiện thông báo, đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng. Luật cũng quy định trách nhiệm của các tổ chức, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trên không gian mạng và viễn thông trong việc triển khai giải pháp kỹ thuật, phối hợp gỡ bỏ, ngăn chặn nội dung vi phạm.
Đặc biệt, khoản 6 Điều 7 bổ sung quy định nghiêm cấm hành vi: “Sử dụng không gian mạng, trí tuệ nhân tạo hoặc công nghệ để vi phạm pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo”. Quy định này góp phần phòng ngừa, xử lý các hành vi lợi dụng công nghệ, mạng xã hội để vi phạm pháp luật trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo.
2. Phân quyền, phân cấp triệt để gắn với tổ chức chính quyền địa phương hai cấp
Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026 có sự thay đổi lớn về cơ cấu thẩm quyền quản lý nhà nước. Theo đó, Luật bãi bỏ hoàn toàn thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp huyện, phù hợp với yêu cầu vận hành mô hình tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp.
Ở cấp trung ương, Bộ Dân tộc và Tôn giáo được giao trách nhiệm thống nhất quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo. Các thẩm quyền trước đây của cấp huyện nay được phân cấp lên Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc giao trực tiếp cho Ủy ban nhân dân cấp xã.
Điển hình, Ủy ban nhân dân cấp xã có thẩm quyền tiếp nhận thông báo và chấp thuận tổ chức đại hội, cuộc lễ, giảng đạo có phạm vi địa bàn ở một xã. Quy định này bảo đảm tính tự chủ, sát sao cơ sở, đồng thời nâng cao năng lực chịu trách nhiệm trực tiếp của chính quyền địa phương trong công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo.

3. Bổ sung các biện pháp chế tài quản lý chuyên ngành
Nhằm xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và đề cao công tác phòng ngừa, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026 bổ sung các biện pháp chế tài quản lý chuyên ngành rõ ràng hơn.
Đối với biện pháp thu hồi, cơ quan nhà nước có thẩm quyền thu hồi văn bản chấp thuận đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung nếu trong 6 tháng nhóm không tổ chức sinh hoạt theo khoản 5 Điều 19. Văn bản chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo cũng bị thu hồi nếu tổ chức không hoạt động trong 1 năm theo khoản 3 Điều 20.
Đối với biện pháp đình chỉ, Luật bổ sung thẩm quyền đình chỉ hoặc yêu cầu đình chỉ chức vụ của chức việc khi có hành vi vi phạm Điều 7 hoặc sử dụng giấy tờ giả mạo theo Điều 33. Đây là những quy định nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, kịp thời phòng ngừa và xử lý các vi phạm phát sinh trong thực tiễn.
4. Cơ chế đăng ký nhân sự linh hoạt, tháo gỡ vướng mắc cho tổ chức tôn giáo (Theo Điều 31)
Một điểm mới đáng chú ý khác là Luật phân định rõ cơ chế đăng ký nhân sự trong tổ chức tôn giáo. Theo Điều 31, nếu việc bổ nhiệm hoặc suy cử được thực hiện thì tổ chức tôn giáo gửi hồ sơ đăng ký trước. Trường hợp nhân sự được thông qua bằng hình thức bầu cử tại đại hội thì tổ chức tôn giáo gửi hồ sơ thông báo kết quả sau.
Quy định này giúp tháo gỡ những vướng mắc trong quá trình thực hiện thủ tục liên quan đến nhân sự tôn giáo, đồng thời bảo đảm tính rõ ràng, minh bạch, phù hợp với thực tiễn hoạt động của các tổ chức tôn giáo.

5. Ghi nhận đậm nét vai trò cốt lõi của cộng đồng dân cư
Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026 bổ sung chủ thể “cộng đồng dân cư” vào đối tượng áp dụng và định danh trong các khái niệm nền tảng tại Điều 1 và Điều 2. Việc định nghĩa tín ngưỡng là niềm tin mang lại sự bình an tinh thần cho “cá nhân và cộng đồng dân cư” cho thấy sự tương thích với pháp luật về di sản văn hóa, đồng thời đề cao vai trò của cộng đồng trong đời sống tín ngưỡng.
Đáng chú ý, tại Điều 14, việc bầu người đại diện ban quản lý cơ sở tín ngưỡng thuộc về quyền của cộng đồng dân cư. Ủy ban nhân dân phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tổ chức thực hiện, qua đó phát huy dân chủ cơ sở thực chất, bảo đảm sự tham gia của cộng đồng trong quản lý cơ sở tín ngưỡng.
6. Bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật bằng kỹ thuật dẫn chiếu
Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026 khắc phục sự chồng chéo của Luật năm 2016 khi bãi bỏ hoàn toàn các Điều 64 và 65 về xử lý vi phạm. Đây là kỹ thuật lập pháp theo hướng dẫn chiếu, nhằm bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật.
Theo đó, khi có hành vi vi phạm, đặc biệt là vi phạm trên không gian mạng, cơ quan chức năng sẽ trực tiếp áp dụng các chế tài của Luật Xử lý vi phạm hành chính, các quy định chuyên ngành về viễn thông, an ninh mạng hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo Bộ luật Hình sự. Cơ chế này tạo ra lưới pháp lý đa tầng, không bỏ lọt vi phạm, đồng thời tăng sức răn đe đối với các hành vi lợi dụng tôn giáo để trục lợi, chống phá.

Có thể khẳng định, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026 là một điểm sáng trong công tác xây dựng và hoàn thiện thể chế. Đạo luật không chỉ mở rộng hành lang pháp lý bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo chân chính của Nhân dân, mà còn cung cấp những công cụ cần thiết để quản lý nhà nước hiệu quả trong kỷ nguyên số.
Việc tuyên truyền, phổ biến Luật Tín ngưỡng, tôn giáo số 07/2026/QH16 có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao nhận thức, ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, đoàn viên, hội viên, chức sắc, chức việc, nhà tu hành, tín đồ các tôn giáo và các tầng lớp Nhân dân; góp phần giữ vững ổn định chính trị - xã hội, phát huy giá trị tốt đẹp của tín ngưỡng, tôn giáo và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Tác giả: Đào Trọng
Những tin mới hơn
Những tin cũ hơn
Hôm nay
Tổng lượt truy cập